phân tích bài qua đèo ngang lớp 7
Bài thơ "Qua đèo ngang" là một bài thơ hay thể hiện sự cô đơn, buồn chán của tác giả trước cảnh hoàng hôn ở vùng đất hoang sơ cùng cốc, một thân một mình với những nỗi buồn khi nhớ về quê hương nơi xa xôi. Bài thơ Qua đèo ngang được viết bắt thể thơ thất ngôn bát cú.
Bài thơ 'Qua Đèo Ngang' là tiếng nói của một người mà trở thành khúc tâm tình của muôn triệu người, nó là bài thơ một thời mà mãi mãi, bài thơ Non Nước. BÀI SỐ 68. Phân tích bài thơ: 'Qua Đèo Ngang'của Bà Huyện Thanh Quan (bài 2).
Danh sách các Bài văn phân tích tâm trạng của tác giả trong bài thơ "Qua Đèo Ngang" hay nhất. Cùng với Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan là ba gương mặt nhà thơ nữ nổi tiếng nhất thế kỉ XVIII, nếu như thơ của Hồ Xuân Hương có cái sắc sảo, cá tính thì
Bài văn Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang gồm dàn ý chi tiết, bài văn phân tích mẫu được tuyển chọn từ các bài văn phân tích đạt điểm cao của học sinh trên cả nước giúp bạn đạt điểm cao trong bài kiểm tra, bài thi môn Ngữ văn 7. Đề bài: Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan. Bài văn mẫu. Bà Huyện Thanh Quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại
100 bài văn hay lớp 7; 155 bài làm văn chọn lọc 7; Hai câu kết bài thơ "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan có thể coi là hai câu thơ hay nhất trong bài. Nhà thơ Tế Hanh đã có một nhận xét rất hay về hai câu thơ ấy như sau: "Hai câu thơ này vừa kết thúc bài thơ lại
Site De Rencontre Gratuit Non Payant France. Phân tích bài Qua đèo ngang – Ôn thi HK, thi HSG lớp 7 do Kiến thức tổng hợp chắt lọc từ các tài liệu chuẩn – đặc sắc nhất. Tổng hợp 6 mẫu mở bài – kết bài hấp dẫn lấy điểm trên 8. Cùng đầy đủ dàn ý, mẫu bài giúp học sinh tham khảo và ôn tập tốt hơn, mời theo dõi! Nội dung bài viết1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm qua đèo Tác Tác Bố cục phân tích bài Qua đèo Đặc sắc nội dung và nghệ thuật2 Dàn ý phân tích bài Qua Đèo Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Mở Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Kết bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm qua đèo ngang Bà huyện Thanh Quan là nữ thi sĩ nổi tiếng nhất XVIII – XIX của Việt Nam. Nhân vật từng nhận không ít những lời khen “có cánh” của các nhà phê bình văn học, như Nguyễn Lộc trong Từ điển văn học “Ở tất cả những bài thơ viết bằng luật Đường của bà, niêm luật đều chặt chẽ mà không có cảm giác gò bó, xếp đặt, câu thơ trang nhã, từ ngữ chải chuốt và chọn lọc công phu. Bà huyện Thanh Quan là một trong những nhà thơ nữ nổi tiếng nước ta. Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu “Những bài thơ Nôm của bà truyền lại có ít, phần nhiều là thơ tả cảnh, tả tình, nhưng bài nào cũng hay và tỏ ra bà là người có tính tình đoan chính, thanh tao, một người có học thức, thường nghĩ tới nhà, tới nước. Lời văn rất trang nhã, điêu luyện.” Bà Huyện Thanh Quan là nữ thi sĩ tài hoa của thế kỷ XVIII – XIX Tác giả – Bà huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, quê ở Thăng Long và là người Đàng ngoài thuộc phủ chúa Trịnh. – Bà Huyện Thanh Quan là một nữ thi sĩ học rộng tài cao, nổi tiếng nhất ở thế kỉ XVIII – XIX. – Quê gốc của bà ở Nghi Tàm – Tây Hồ – Hà Nội, là người sinh ra thuộc chúa Trịnh nhưng lại có cơ duyên với họ Nguyễn. Bà được chúa Nguyễn ban họ trong lần vào cung Phú Xuân. – Đặc điểm thơ tiêu biểu của Bà huyện Thanh Quan là nét tâm sự hoài cổ. Thơ của bà xuất hiện nhiều hình ảnh thiên nhiên, thường là lúc trời chiều. Làm gợi một nỗi niềm nhớ nhung khó tả, cùng tâm trạng buồn man mác. – Cảnh trong thơ được khắc họa như một bức tranh thủy mặc, chấm phá, diễn tả bằng nghệ thuật ước lệ. – Hoàn cảnh xa xứ một đi chưa trở lại đã trở thành nỗi niềm trở đi trở lại trong nhiều thi phẩm của nhà thơ. Mỗi bức tranh tả cảnh đều chất chứa một tình cảm nhớ quê nhà da diết. – Đối với bà, cái đẹp là cái dĩ vãng còn hiện tại lại vắng vẻ, hiu quạnh. – Vì vậy, Bà huyện Thanh Quan còn được biết đến là nhà thơ hoài cổ – hoài thương điển hình trong văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm – Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan được sáng tác trong lần bà vào Huế làm chức cung trung giáo tập để dạy công chúa và cung phi. Trên đường vào kinh nhận chức, khi qua Đèo Ngang, “tức cảnh sinh tình” nên bà đã sáng tác bài thơ. Đèo Ngang là địa danh nổi tiếng thuộc dãy núi Hoành Sơn, phân cách địa giới hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh. Hình ảnh con đèo trở thành cảm hứng văn chương của không ít thì nhân như Nguyễn Khuyến có bài Qua Hoành Sơn, Nguyễn Thượng Hiền có Hoành Sơn xuân vọng, Cao Bá Quát có Đặng Hoành Sơn,… Thế nhưng, “Qua Đèo Ngang” vẫn là tác phẩm được nhiều người yêu thích và phổ biến hơn cả khi viết về địa danh này. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan – Tìm hiểu phân tích bài Qua Đèo Ngang Thể thơ Thất ngôn bát cú Đường Luật 8 câu 7 chữ theo luật thơ Đường, được viết bằng chữ Nôm. Gieo vần chân chữ cuối ở mỗi câu thơ tà, hoa, nhà, gia, ta Nghệ thuật đối câu 3 – 4, 5 – 6 Niêm luật chặt chẽ về Bằng – Trắc B – T Tiếng thứ 2 của câu 1 là thanh bằng -> Luật B Tiếng thứ 2 của câu 1 là thanh trắc -> Luật T Tiếng 2 trùng thanh với tiếng thứ 6 và khác thanh với tiếng thứ 4 Các tiếng 1, 3, 5 bằng trắc tùy ý Xem thêm Cách xác định các loại phương thức biểu đạt trong văn học Bố cục phân tích bài Qua đèo ngang Phân tích bài Qua đèo ngang có bố cục 4 phần, tương ứng với “Đề – thực – luận – kết”. Mỗi phần là hai câu thơ theo thứ tự Đề Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, / Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Thực Lom khom dưới núi, tiều vài chú / Lác đác bên sông, chợ* mấy nhà Luận Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc, / Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia Kết Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, / Một mảnh tình riêng, ta với ta chợ* Thơ có nhiều dị bản khác nhau, trong đó chữ “chợ” hay “rợ” trong câu thơ gây nhiều tranh cãi nhất. Bài thơ trên dùng “chợ” lấy theo nguyên bản thơ đưa vào SGK Ngữ Văn 7. Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “rợ” hợp lý hơn “chợ”. Vì trên đèo thì không thể có chợ, mà nếu có thì không thể heo hút “mấy nhà” được. Còn “rợ” là tiếng địa phương Hà Tĩnh chỉ “nhà tạm” nghe hợp lý hơn. Đặc sắc nội dung và nghệ thuật – Nội dung Nội dung phân tích bài Qua Đèo Ngang Miêu tả bức tranh thiên nhiên và cuộc sống của con người nơi đèo Ngang đẹp, hoang sơ nhưng gợi buồn man mác. Bộc lộ tâm trạng Hoài cổ nhớ nước, thương nhà da diết, nỗi buồn thầm lặng cô quạnh. – Nghệ thuật Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc Sử dụng hàng loạt biện pháp tu từ nhân hoá, đảo ngữ, điệp từ, chơi chữ điêu luyện Miêu tả kết hợp biểu cảm Lời thơ trang nhã, uyên thâm, âm điệu trầm lắng giàu cảm xúc Bài viết liên quan khác Các biện pháp tu từ thường gặp trong Ngữ Văn Giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc Dàn ý phân tích bài Qua Đèo Ngang Trước khi phân tích bài Qua Đèo Ngang. Ta cần hiểu thế nào là Đề – Thực – Luận – Kết? Lý luận thi pháp thơ Đường luật Trung Quốc không có khái niệm Đề, Thực, Luận, Kết mà thay bằng đầu liên, hàm liên, cảnh liên, vĩ liên. Nói ngắn gọn hơn, chúng tương ứng với “Khai – Thừa – Chuyển – Hợp”. Mặc dù khác nhau cách gọi nhưng chúng hoàn toàn tương tự về ý nghĩa và cách phân chia niêm luật. Hai câu Đề Câu 1 gọi là câu phá đề, Câu 2 gọi là câu thừa đề, chuyển tiếp ý để đi vào phần sau Hai câu Thực Giải thích rõ ý đầu bài Hai câu Luận Bình luận 2 câu Thực. Hai câu luận để diễn tả suy nghĩ, thái độ, cảm xúc về sự vật, hiện tượng Hai câu Kết Khái quát toàn bộ nội dung bài theo chiều mở rộng và nâng cao Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Mở bài MB1 Khi nhắc tên hai nữ thi hào nổi tiếng nhất thơ ca trung đại Việt Nam, chắc chắn nhiều người sẽ nghĩ ngay về hai cái tên quen thuộc. Đến với thơ Hồ Xuân Hương, ta hình dung ngay đến sự sắc sảo, mạnh mẽ, bứt phá. Ta lại bắt gặp phong thái điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn trong thơ Bà Huyện Thanh Quan. “Qua Đèo Ngang” là tiêu biểu cho phong cách ấy, khi lột tả sâu sắc niềm nhớ quê hương và nỗi lòng người con xa xứ. MB2 Bà Huyện Thanh Quan là một trong những câu bút vàng của nền văn học Việt Nam TK XVIII – XIX. Nổi tiếng là nữ thi nhân nhạy cảm lại thông tuệ, xuất khẩu thành thơ. Trong chuyến đi xa vào kinh đô Huế, vẻ đẹp núi non cùng nỗi niềm xa nhà đã thôi thúc nhà thơ sáng tác thi phẩm “Qua Đèo Ngang”. Đây được xem là một trong các tác phẩm tiêu biểu, đại diện cho tài văn chương và phong thái đoan trang, lối văn trang nhã, điêu luyện của Bà huyện Thanh Quan. MB3 “Muôn dặm đường đi núi lẫn đồi Bên non cỏ nội tiễn đưa người Ai tài kéo nước nghìn năm lại Trăm trận còn tên một luỹ thôi” Lên núi Hoành Sơn – CBQ Đó là những chiêm nghiệm sâu sắc về thực tế nghiệt ngã của sự mất. Còn là tự lý giải bao nghịch lý đường đời trên hành trình của nhà thơ Cao Bá Quát. Khi ông đứng trên non cao vời vợi mà nhìn về kiếp người. Cùng được lấy cảm hứng khi đứng trước “Đèo Ngang” nổi tiếng của Việt Nam, Bà huyện Thanh Quan lại nhuốm buồn cho khung cảnh nơi đây bằng khúc nhớ quê của kẻ tha phương. “Qua Đèo Ngang” trở thành nỗi niềm chung của những người con xa xứ. Cũng là tiêu biểu cho phong cách tâm sự hoài cổ của nữ thi nhân. Bài thơ Qua Đèo Ngang Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu đề ” Bước tới… chen hoa” – Không gian cảnh trên Đèo Ngang – Thời gian nghệ thuật lúc xế tà đã về chiều hay còn gọi là lúc hoàng hôn => Thời gian gợi buồn, nỗi nhớ làm tăng thêm nỗi cô đơn trong lòng tác giả trên đường lữ khách tha hương – Cảnh vật cỏ cây, lá, đá, hoa => Động từ “chen’’ điệp 2 lần khắc họa sức sống cỏ cây ở một nơi hoang dã, vô trật tự, hoang vu. Dưới hoàn cảnh khắc nghiệt, những mầm sống phải chen lấn nhau để tồn tại. Cảnh tuy đầy đủ hoa lá, màu sắc nhưng lại càng tô đậm nét hiu hắt, tiêu điều. Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu thực “Lom khom… mấy nhà” – Nghệ thuật đối, đảo ngữ, lặp cú pháp – Tác dụng Nhấn mạnh tính chất đặc điểm của con người và cảnh vật – Sử dụng hàng loạt từ láy Lom khom, lác đác – Tác dụng Xoáy sâu vào hiu quạnh, thưa thớt đến buồn cô quạnh. Nghệ thuật chấm phá khiến con người và những biểu hiện của sự sống con người trở nên ít ỏi, nhỏ bé giữa thiên nhiên mênh mông. Cũng thấy được điểm nhìn từ xa của tác giả, cho thấy bước chân nặng trĩu nỗi niềm khi dần xa quê hương của thi sĩ. Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu luận “Nhớ nước… gia gia” – Nghệ thuật đối, đảo ngữ nhớ – thương lên trước, lấy động tả tĩnh, đồng âm, ẩn dụ tượng trưng – Tác dụng Nhấn mạnh tâm trạng của tác giả, gợi nỗi buồn khổ, khắc khoải, triền miên không dứt. – Tiếng chim kêu Vừa là yếu tố nghệ thuật xoáy sâu vào sự vắng lặng trong khung cảnh. Vừa là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng để bộc lộ chiều sâu tâm trạng, nỗi nhớ nhà khôn nguôi. Tiếng chim quốc ẩn dụ nỗi niềm nhớ nước quốc = nước Tiếng chim đa ẩn dụ tâm trạng nhớ nhà gia = nhà – Ý nghĩa Đó là tiếng lòng tha thiết, da diết của nhà thơ Nhớ nhà, quê, nhớ quá khứ của đất nước, nhớ kinh thành Thăng Long => Tiêu biểu cho nét tâm trạng hoài cổ trong thơ Bà huyện Thanh Quan. Đánh giá thơ của Bà huyện Thanh Quan Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu kết “Dừng chân… với ta” – Biện pháp đối ý Trời, non, nước >< một mảnh tình riêng Trời, non, nước Đại diện cho thiên nhiên rợn ngợp, mênh mông, lớn lao Một mảnh tình riêng Thế giới nội tâm của cá nhân nhân vật trữ tình buồn nhớ da diết, cô đơn – Ý nghĩa “Mảnh tình riêng” Tình riêng là chỉ tình cảm sâu kín. Đó không phải là tình yêu đôi lứa mà là tình cảm thiêng liêng với quê hương, đất nước của nhà thơ. – Cụm từ “ta với ta” Tuy 2 mà 1, chỉ để nói một người, một nỗi buồn, một nỗi cô đơn không ai sẻ chia, hoàn toàn trong thế giới cô độc. – Kết luận Hai câu thơ thể hiện hình ảnh một người phụ nữ nhỏ bé, cô đơn giữa đất trời bao la. Đây là những ý thơ cực tả về sự cô độc, buồn đau. Cũng là nhớ tiếc về quá khứ, nỗi thương nước nhớ nhà của nhà thơ. Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Kết bài KB1 Lời thơ xao xuyến, bồi hồi, chan chứa bao nỗi niềm nhớ thương quê hương. “Qua Đèo Ngang” đã trở thành tiếng lòng chung của những người con xa xứ. Cũng là áng thơ tiêu biểu cho nghệ thuật chấm phá, ước lệ đặc trưng của thơ ca trung đại. Tiêu biểu cho phong cách văn chương vừa thông tuệ sâu sắc, vừa thấm đượm tình cảm, thoang thoải màu buồn của Bà huyện Thanh Quan. Hướng dẫn xây dựng MB – KB hấp dẫn KB2 Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan vừa gợi lên một bức tranh về cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ. Đồng thời gợi ra khung cảnh sống giản dị, đơn sơ mà ấm áp của con người. Từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, đất nước da diết khi xa nhà. Tâm trạng chung của mỗi người khi lẻ loi một bóng hình nơi đất khách quê người. KB3 Với giọng điệu tha thiết, tâm tình, lúc trầm bổng đan xen. Cùng với các biện pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình độc đáo, lấy động tả tĩnh, phép đảo ngữ, điệp ngữ… Mang đến cảm xúc dạt dào đi sâu vào lòng người đọc trong bài “Qua Đèo Ngang”. Qua đó, ta thêm hiểu tấm lòng của người con khi xa quê để càng thêm yêu quê nhà. Trên đây là bài Phân tích bài Qua đèo ngang – Ôn thi HK, thi HSG lớp 7 do Kiến thức tổng hợp chắt lọc từ các tài liệu chuẩn – đặc sắc nhất. Đừng quên Like và Share để nếu thấy bộ tài liệu này hữu ích cho phần ôn tập chương trình học Ngữ Văn! Nguồn Kiến thức tổng hợp
Bài mẫu Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang Cùng CungHocVui tham khảo bài mẫu phân tích bài thơ Qua đèo ngang dưới đây để hiểu rõ hơn về tác phẩm, tâm trạng của tác giả. Từ đó có thể hoàn thành các đề văn liên quan đến tác phẩm tốt nhất Phân tích Qua đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan Mở bài phân tích bài thơ qua đèo ngang “Có nơi đâu đẹp tuyệt vời Như sông như núi, như người Việt Nam” Câu thơ thể hiện niềm tự hào và hãnh diện về núi non và bầu trời Việt Nam. Thiên nhiên ở quê hương chúng ta có vẻ đẹp như mơ, tràn đầy sức sống. Do đó, thiên nhiên luôn là một chủ đề thơ vô tận. Đôi khi nó lấp lánh, huyền diệu như trong một giấc mơ, đôi khi rực rỡ, đẹp như mặt trời. Nhưng đồng thời, cảnh này cũng sẽ nhuốm màu ảm đạm, ảm đạm dưới con mắt của các nhà thơ mang đến một tâm trí hoài cổ khi sáng tác một bài thơ giận dữ. Chính vì vậy, nhà thơ vĩ đại Nguyễn Du từng nói “Người ta không bao giờ hạnh phúc khi buồn”. Câu thơ rất phù hợp khi áp dụng vào tình cảnh Bà Huyện Thanh Quan khi viết bài thơ Qua Đèo Ngang. Xem thêm Cảm nhận bài qua đèo ngang Bài thơ qua đèo ngang hoàn cảnh sáng tác, nội dung, dàn ý phân tích Thân bài phân tích bài thơ qua đèo ngang “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà.” Cỏ và cây cối vắt qua đá, lá hoa rủ xuống núi, một vài chú tiều phu bên bờ sông, một số chợ chiều làm bà nhớ về đất nước và đau lòng. “Thương nhà mỏi miệng cái gia gia Dừng chân đứng lại, trời non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta.” Phải hiểu và yêu thích bài thơ mới thấy hết tài năng cũng như tư tưởng hướng về quê hương đất nước và Bà Huyện Thanh Quan. Ai dám nói rằng phụ nữ trong một xã hội phong kiến không có những cảm xúc thiêng liêng đó? Chỉ cần đọc hai câu đầu tiên của bài thơ là ta đã nhận ra ngay ra một nỗi buồn xa vắng. “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” Câu thơ xuất hiện với những cụm từ và sự hiện diện của thông điệp xen kẽ với vần điệu của lá và đá, tạo ra sự cô đơn và đơn độc. Yếu tố thời gian làm cho câu thơ thậm chí còn buồn hơn. Ca dao cũng cho biết “Vẳng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau” Điều đó có nghĩa là, cảm xúc cao quý của mỗi người dường như gặp nhau tại một thời điểm. Đến lúc rồi. Nhưng thời điểm thích hợp nhất để thể hiện những ký ức khao khát muốn của bà là khi buổi chiều đến. Xem thêm Dàn ý phân tích bài thơ Qua đèo ngang Trong bài thơ Qua Đèo Ngang, tác giả bất ngờ bày tỏ cảm xúc man mác khi bắt gặp cảnh hoàng hôn bao trùm khung cảnh ở núi Hoành Sơn. Cảnh tượng lại buồn bã bởi thông điệp được chèn vào câu thứ hai. Nó làm cho người đọc thơ bỗng cảm nhận được sự hoang dã của ngang qua vào lúc hoàng hôn, bóng tối mặc dù nó rất đẹp có cây cối, đá, lá, hoa. Bởi vì nó quá vắng vẻ ở đây, nhà thơ đã mở mắt ra để tìm kiếm một cái gì đó được gọi là một cuộc sống năng động. Và ở đó, xa dưới chân đèo xuất hiện hình ảnh “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà” Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan Câu thơ gợi lên mô tả về hoàng hôn lạnh lẽo, những người tiều phu, các hàng chợ sắp tàn trong bóng chiều. Một chữ tượng hình mang hai từ được xếp xen kẽ trong đầu câu đã được tác giả sử dụng như một sự nhấn mạnh vào nỗi nhớ ở đây. Nhà thơ tìm kiếm một cuộc sống, nhưng cuộc sống đó làm cho cảnh càng mặn mà, buồn hơn, xa xôi hơn. Sự đối lập vốn có của hai câu thực sự làm cho cảnh trên sông và dưới ngọn núi trở nên rời rạc và thưa thớt hơn. Từ lác đác, nó dường như thêm vào sự cô độc của nơi này. Trong sự cô độc đó, đột nhiên, tiếng kêu man rợ của loài chim quốc quốc, con chim gia gia trong hoàng hôn đang rơi xuống. Đó có phải là cảm giác của loài chim quốc và chim gia, con chim gia mà tác giả cảm nhận hay đó là nghệ thuật ẩn dụ để thể hiện cảm xúc của nữ nghệ sĩ từ sâu thẳm tình yêu đất nước hay tình yêu của ngôi nhà? Quốc, gia là Tổ quốc và gia đình Bà Huyện Thanh Quan lúc bấy giờ? Sự tương đồng giữa ý tưởng và lời nói của hai câu thơ trong bài luận của bài thơ này nhằm nhấn mạnh tình yêu của Bà Huyện Thanh Quan dành cho Tổ quốc, gia đình bà khi đối mặt với một cảnh như vậy. Từ thực tế của xã hội đương đại mà bà đang sống đến cảnh thật của Qua Đèo Ngang, tác giả nhắc nhở mình về cái tôi và tâm sự “Dừng chân đứng lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta.” Ở cuối bài viết, chúng tôi cảm thấy rằng nhà thơ có những suy nghĩ hoài cổ về quá khứ. Tạm dừng và nhìn cô ấy chỉ thấy trời, non, nước. Vũ trụ quá rộng lớn, xung quanh cô là một bầu trời với những ngọn núi, với những dòng sông làm cho mọi người cảm thấy nhỏ bé, cô đơn, trống rỗng, ở đây, chỉ có bà và bà, nhiều mảnh tình yêu dành cho nước, cho ngôi nhà trong dòng máu đã làm cho trái tim của các nhà thơ tê liệt. Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan Vũ trụ quá rộng lớn! Những người cô đơn cũng vậy! Tất cả được mô tả dưới cây bút tài năng của nữ nghệ sĩ, vì vậy bài thơ là một bức tranh độc đáo. Từ ta là minh chứng cho nghệ thuật khéo léo trong sáng tác thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Bởi vì chúng tôi ở bên tôi, nhưng nhà thơ Nguyễn Khuyến nói “Bác đến chơi đây ta với ta” Đó là sự kết hợp của hai người hai nhưng một, một nhưng hai. Và bà Huyện Thanh Quan “Một mảnh tình riêng ta với ta.” Đã làm nổi bật sự cô đơn, cô đơn của bà. Thông qua câu thơ, chúng ta dường như cảm nhận sâu sắc hơn sự tự tôn của tác giả trước cảnh tình yêu của quê hương... Sau khi phân tích bài thơ, tôi thấu hiểu sâu sắc hơn và thấm sâu vào tình cảm của một nữ nhà thơ trong xã hội cổ đại, giúp tôi yêu đất nước và con người Việt Nam ngày càng nhiều hơn. Tôi cảm thấy vững vàng trong suy nghĩ của mình và có những suy nghĩ tích cực hơn, góp phần xây dựng quê hương Việt Nam ngày càng giàu đẹp, giữ lại những di tích do người xưa để lại như gửi, nhắc nhở đến chúng tôi. Từ quá khứ đến nay, nhiều nhà thơ đã miêu tả cảnh Đèo Ngang, nhưng không ai thành công như Bà Huyện Thanh Quan bởi trong tác phẩm của bà có tâm hồn, tình cảm, trái tim và tài năng của một nhà văn tuyệt vời. Toàn bộ bài thơ được vần "a" như nỗi nhớ của tác giả. Chúng tôi thậm chí không tìm thấy một chút tiếng ồn trong mô tả. Tất cả chỉ là yên tĩnh, bao la như tâm trí của chính tác giả. Những lời thơ mộng khiến người đọc cảm thấy xúc động cũng là cảm xúc sâu lắng của Bà Huyện Thanh Quan khi chị đặt chân lên đèo Ngang trong khung cảnh núi non khi hoàng hôn buông xuống. Những cảm xúc tương tự, chúng ta sẽ gặp lại nhau khi chúng ta đọc bài học buổi tối vô gia cư của cô ấy với câu “Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa, vẳng trống dồn.” Kết bài phân tích bài thơ qua đèo ngang Để bày tỏ lòng biết ơn đối với nhà thơ đã cho chúng ta những câu thơ đầy tình cảm tốt đẹp bắt nguồn từ tận đáy tâm hồn, từ sự rung cảm thực sự, người ta đã đặt tên làng, tên đường phố Bà Huyện Thanh Quan mãi mãi được thế hệ sau ghi nhớ tài năng cũng như tư tưởng tuyệt vời của con người và người phụ nữ đối với đất nước và lịch sử.
I. DÀN Ý1. Mở bài– Đèo Ngang là ranh giới tự nhiên ngăn cách giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Đây cũng là một thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng.– Rất nhiều thi sĩ đã làm thơ tả cảnh đèo Ngang, trong đó nổi tiếng nhất là bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.– Tác giả sáng tác bài thơ này trong dịp từ Thăng Long vào Huế để nhậm chức Cung trung giáo tập nữ quan dạy dỗ nghi lễ cho các cung nữ.– Đằng sau bức tranh phong cảnh là tâm trạng cô đơn và hoài niệm về một thời đại phong kiến huy hoàng đã qua, không bao giờ trở Thân bài* Hai câu đề+ Câu thứ nhất Bước tới đèo Ngang bóng xế tà.– Thời điểm nữ sĩ đặt chân tới đèo Ngang là lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống.– Cảnh vật rất dễ gợi buồn trong lòng người lữ thứ.+ Câu thứ hai cỏ cây chen đá, lá chen hoa.– Miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, tràn đầy sức sống của đèo Ngang qua điệp từ chen và hai vế đối cỏ cây chen đá lá chen hoa.– Cảnh đẹp nhưng vẫn nhuốm màu buồn tẻ, quạnh hiu của một miền sơn cước.* Hai câu thực+ Câu thứ ba Lom khom dưới núi tiều vài chú.– Đảo ngữ trong câu đặc tả dáng vẻ mấy tiều phu kiếm củi sườn núi, nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi của con người trước thiên nhiên hùng vĩ.+ Câu thứ tư Lác đác ven sông chợ mấy nhà.– Hình ảnh ngôi chợ là bộ mặt của cuộc sống một vùng nhưng ở đây, chợ chỉ là vài túp lều tranh xiêu vẹo ven sông.– Không khí vắng vẻ, quạnh hiu bao trùm lên cảnh vật.* Hai câu luận+ Câu thứ 5 Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc.– Tiếng cuốc kêu khắc khoải lúc chiều buông càng làm cho không gian thêm tĩnh lặng.– Có thể là tiếng cuốc kêu mà cũng có thể là tiếng vọng từ trong tâm tưởng hoài cổ của nữ sĩ đang nuối tiếc thời đại huy hoàng đã qua, thể hiện nỗi buồn trĩu nặng, khó nguôi ngoai.– Nghệ thuật đối câu câu 5 >< con người nhỏ bé.+ Cậu thứ 8 Một mảnh tình riêng ta với ta.– Nét tương phận càng tô đậm sự cô đơn, buồn bã trong lòng người.– Nỗi buồn không thể san sẻ nên kết tụ lại trong lòng thành mảnh tình riêng, chỉ có ta với ta mà thôi.– Âm hưởng, nhịp điệu câu thơ giống như một tiếng thở dài ngậm ngùi, nuối Kết bài– Qua đèo Ngang được đánh giá là một bài thơ xuất sắc, thể hiện tài năng và tấm lòng yêu mến non sông, đất nước của nữ sĩ.– Thể thơ Đường luật sang trọng đã trở nên gần gũi, dễ hiểu bởi ngôn ngữ trong sáng và những hình ảnh dân dã, quen thuộc.– Bài thơ có sức sống vĩnh cửu trước thời gian và trong lòng nhiều thế hệ yêu thơ.
Văn mẫu lớp 7 Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, Hôm nay, Tài Liệu Học Thi sẽ cung cấp Bài văn mẫu lớp 7 Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Qua Đèo Ngang là một bài thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan. Tác phẩm được giới thiệu trong chương trình Ngữ văn lớp Đang Xem Văn mẫu lớp 7 Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang Tài Liệu Học Thi sẽ cung cấp Bài văn mẫu lớp 7 Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, bao gồm dàn ý và 9 bài văn mẫu, mong sẽ giúp ích cho các bạn học sinh. Mời tham khảo nội dung chi tiết dưới đây. I. Mở bài Giới thiệu về Bà Huyện Thanh Quan, nội dung chính bài thơ Qua Đèo Ngang. II. Thân bài 1. Hai câu đề Cảnh vật thiên nhiên nơi Đèo Ngang – Thời gian “Bóng xế tà”, đây là thời điểm kết thúc của một ngày, khi con người thường trở về nhà sau một ngày lao động vất vả. Vậy mà nhà thơ lại một mình tại nơi đèo Ngang càng khiến cho nỗi cô đơn trở nên tột cùng. – Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng. Điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” gợi ra một thiên nhiên tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống. => Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động. 2. Hai câu thực Cuộc sống con người nơi Đèo Ngang – Giữa thiên nhiên hoang sơ và rộng lớn con người xuất hiện Nghệ thuật đảo ngữ Lom khom – tiều vài chú hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi. Lác đác – chợ mấy nhà hình ảnh vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông. => Nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Con người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. Cảnh vật và con người dường như có sự xa cách khiến cho không khí càng thêm hoang vu, cô quạnh. 3. Hai câu luận Tâm trạng nhớ nhà của nhà thơ khi đứng trước Đèo Ngang – Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim chim đỗ quyên, chim đa đa. – Mà ở đây, nhà thơ đã sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” để qua đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương. => Hai câu thơ diễn tả nhớ nhung sâu đậm của Bà Huyện Thanh Quan. 4. Hai câu kết Nỗi cô đơn tột cùng của nhà thơ – Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước có bầu trời, có núi non, dòng sông. – Sự cô đơn của nhà thơ “một mảnh tình riêng” – tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ, “ta với ta” – đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi. => Hai câu kết khẳng định lại nỗi cô đơn, trống trải của tác giả trước thiên nhiên rộng lớn. III. Mở bài Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Qua Đèo Ngang. Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang – Mẫu 1 Bà Huyện Thanh Quan là một nữ thi sĩ nổi tiếng trong nền văn học trung đại của nước ta. “Qua Đèo Ngang” là một tác phẩm rất tiêu biểu cho phong cách thơ của bà. Bài thơ đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời nhà thơ còn qua đó gửi gắm nỗi nhớ nước thương nhà. Tác giả đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên nơi Đèo Ngang trong một buổi chiều tà “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” Cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm kết thúc của một ngày. Nhà thơ đang một mình đứng trước nơi đèo Ngang. Tiếp đến câu thơ “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng, khắc họa khung cảnh thiên nhiên đèo Ngang. Việc sử dụng điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” thật tinh tế. Vẻ đẹp thiên nhiên của đèo Ngang tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống. Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động. Và không thể thiếu trong bức tranh thiên nhiên đó là hình ảnh con người. Nghệ thuật đảo ngữ “lom khom – tiều vài chú” cho thấy hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi. Và “lác đác – chợ mấy nhà” gợi ra hình ảnh vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông. Nhà thơ muốn nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Con người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. Thiên nhiên mới là trung tâm trong bức tranh đèo Ngang. Thiên nhiên càng cô quạnh, tâm trạng của tác giả càng cô đơn. Điều đó được bộc lộ ở những câu thơ tiếp theo “Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia” Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim chim đỗ quyên, chim đa đa. Việc sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” để qua đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương. Đọc đến đây, chúng ta dường như có thể lắng nghe được tiếng kêu khắc khoải, da diết đang vang lên trong vô vọng. Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước có bầu trời, có núi non, dòng sông. Sự cô đơn của nhà thơ “một mảnh tình riêng” – tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ “Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta” Trong thơ Nguyễn Khuyến cũng từng sử dụng cụm từ “ta với ta” “Đầu trò tiếp khách trầu không có Bác đến chơi đây ta với ta” Trong “Bạn đến chơi nhà, từ “ta” đầu tiên chỉ chính nhà thơ – chủ nhà, còn từ “ta” thứ hai chỉ người bạn – khách đến chơi. Từ “với” thể hiện mối quan hệ song hành, gắn bó dường như không còn khoảng cách. Qua đó thể hiện tình bạn gắn bó tri âm tri kỷ của nhà thơ. Còn trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, cụm từ “ta với ta” ở đây đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi. Sự cô đơn ấy dường như chẳng thể có ai cùng chia sẻ. Như vậy, Qua đèo Ngang đã thể hiện được tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan trước khung cảnh đèo Ngang hoang sơ. Bài thơ chứa đựng những tình cảm, ý nghĩa sâu sắc. Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang – Mẫu 2 “Có nơi đâu đẹp tuyệt vời Như sông như núi, như người Việt Nam” Câu thơ thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt Nam. Thiên nhiên trên quê hương ta có vẻ đẹp mộng mơ, chan hòa sức sống. Chính vì vậy, thiên nhiên luôn là đề tài bất tận của thi ca. Lúc thì lung linh, huyền diệu như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là một trong số đó. “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà. Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia. Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta.” Câu thơ mở đầu gợi mở về không gian, thời gian. Cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm chiều tà đã bao trùm lên không gian đèo Ngang. Tiếp đến nhà thơ sử dụng điệp từ “chen” cùng cách gieo vần lưng “lá, đá” đã tạo nên sự cô đơn, tĩnh mịch. Từ tà như diễn tả một khái niệm sắp tàn lụa, biến mất. Yếu tố thời gian làm cho câu thơ thêm phần buồn bã. Ca dao cũng đã có câu “Vẳng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau” Thế mới biết, những tình cảm cao quý của mỗi người dường như gặp nhau ở một điểm. Đó chính là thời gian. Mà quãng thời gian thích hợp nhất để bộc lộ sự nhớ nhung khắc khoải chính là lúc chiều về. Ở bài thơ “Qua đèo Ngang”, tác giả bỗng dâng lên cảm xúc man mác khi bà bắt gặp ánh hoàng hôn bao phủ cảnh vật. Không chỉ là thiên nhiên, mà con người cũng xuất hiện trong bức tranh nơi đèo Ngang “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà” Câu thơ gợi cho tả hình dung trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, mấy người tiều phu đang đốn củi, mấy quán chợ xiêu xiêu trong gió. Đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đầu câu đã được tác giả sử dụng như nhấn mạnh thêm sự u hoài ở đây. Nhà thơ đi tìm một sự sống nhưng sự sống đó lại làm cho cảnh vật héo hắt, buồn bã hơn, xa vắng hơn. Xem Thêm Bộ đề thi học kì 1 môn Ngữ văn lớp 8 năm 2017-2018 Có đáp ánSự đối lập vốn có của hai câu thực khiến cho cảnh trên sông, dưới núi thêm rời rạc, thưa thớt. Từ “vài, mấy” như càng nói rõ thêm sự vắng vẻ ở nơi này. Trong sự hiu quạnh đó, bỗng nhiên vẳng lên tiếng kêu đều đều, man mác của loài chim quốc quốc, chim gia gia trong bóng hoàng hôn đang buông xuống. Từ ghép “đau lòng, mỏi miệng” khiến cho ta có cảm giác tha thiết, ray rứt. Từ “nhớ nước, thương nhà” là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia giá phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó? Sự song song về ý, về lời của hai câu thơ trong phần luận của bài thơ này nhằm nhấn mạnh tình cảm của bà Huyện Thanh Quan đối với Tổ quốc, gia đình trước cảnh thật là khéo léo và tài tình. Từ thực tại của xã hội đương đời mà bà đang sống cho đến cảnh thực của đèo Ngang đã khiến cho tác giả sực nhớ đến mình và tâm sự “Dừng chân đứng lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta.” Câu kết của bài, ta cảm thấy nhà thơ có tâm sự u hoài về quá khứ. Dừng lại và quan sát bà chỉ thấy trời, non, nước. Vũ trụ thật rộng lớn, xung quanh bà là cả một bầu trời với núi, với sông khiến cho con người cảm thấy mình bé nhỏ lại, đơn độc, trống vắng, ở đây, chỉ có một mình bà ta với ta, lại thêm mảnh tình riêng cho nước, cho nhà trong huyết quản đã làm cho cõi lòng nhà thơ như tê tái. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước thương nhà. Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang – Mẫu 3 Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan là “Qua Đèo Ngang”. Với bài thơ này, tác giả đã gửi gắm tình yêu quê hương đất nước sâu sắc. “Qua đèo ngang” gợi lên sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của bà Huyện Thanh Quan làm tiêu biểu cho phong cách thơ. Bài thơ “Qua đèo ngang” được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh vào Phú XuânHuế nhận chức và đi ngang qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, quê hương, thương cho thân người con gái yếu đuối đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú. Với tám câu thơ mà đã thấy được những thần thái, cái hồn trong cảnh vật và con người trước cảnh núi rừng hiu quạnh. “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen lá, đá chen hoa” Hai câu đề hiện rõ khung cảnh rừng núi hoang sơ lúc “bóng xế tà”. Một cảnh chiều nặng nề làm cho lòng người trở nên u buồn, gợn sầu hơn. Tất cả như gợi lên nỗi nhớ muốn tỏ rõ nỗi lòng mà không ai bầu bạn, sẻ chia. Chỉ có “cây cỏ chen lá, đá chen hoa” hiu quạnh. Điệp từ “chen” khẳng định sức sống mạnh mẽ của cỏ, cây, bấu víu để sinh sôi nảy nở. “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà” Đến hai câu thơ tiếp theo thì mới thấy bóng dáng của con người. Hai từ láy “lom khom”, “lác đác” cho thấy sự thưa thớt, vắng vẻ của con người. Trong bức tranh thiên nhiên này, con người chỉ là một điều nhỏ bé. Tiếp đến, Bà Huyện Thanh Quan đã bộc lộ tâm trạng của mình khi đứng trước đèo Ngang “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” Giữa chốn rừng sâu vắng lặng, vang lên tiếng chim cuốc đau lòng não ruột. Đó cũng có thể là thanh âm thật là hay là tiếng lòng trong tâm trạng nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ để nói lên tiếng lòng mình trước cảnh. Tiếng chim kêu làm tăng phần cô quạnh, phải chăng đó là tâm trạng hoài vọng nhớ thương nước nhà? Cái bao la, vô tận của non nước làm chơi vơi bóng hình một mình giữa thiên nhiên, hồn cảnh – hồn người như hòa lẫn vào nhau, làm nỗi buồn da diết bị lắng đọng cùng. “Dừng chân đứng lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta” Tiếng lòng non nước thấm thía, không san sẻ buộc nhà thơ thốt lên giãi bày “ta với ta” nghe chua xót. Chỉ ta mới hiểu được lòng ta, sự cô đơn như tăng lên gấp bội. Dù sầu muội như bà Huyện Thanh Quan vẫn cảm nhận được vẻ đẹp non nước dù nơi dừng chân có vẻ hoang sơ, nhưng đã tô lên vẻ đẹp hùng vĩ, bao la của núi rừng. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” vừa gợi lên một bức tranh về cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ, vừa gợi ra khung cảnh sống giản dị, đơn sơ mà ấm áp. Từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, đất nước da diết khi xa quê hương, lẻ loi một bóng hình nơi đất khách quê người. Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang – Mẫu 4 Bà Huyện Thanh Quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn bà để lại cho hậu thế không còn nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là phải kể đến bài Qua đèo Ngang. Đây là bài thơ tả cảnh ngụ tình, bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của bà khi trên đường vào kinh đô Huế nhận chức. Mở đầu bài thơ là bức tranh phong cảnh thấm đẫm nỗi buồn hiu quạnh “Bước đến đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” Hai câu thơ mở ra không gian, thời gian nghệ thuật quen thuộc trong thơ trung đại, đây đồng thời cũng là nét đặc trưng phong cách của Bà Huyện Thanh Quan chiều tà và bóng hoàng hôn. Thời gian là buổi chiều nhưng không phải là lúc đầu hôm mà là chiều tà, thời điểm chuyển giao giữa chiều và tối, ánh nắng chỉ còn nhạt nhòa và sắp lặn. Không gian mênh mông, rộng lớn, với cả trời, non, nước nhưng tất cả đều im ắng, vắng lặng đến rợn ngợp. Trong không gian đó, hình ảnh cây cối, hoa cỏ hiện lên có phần hoang dại, chúng chen chúc nhau mọc lên. Từ “chen” gợi sức sống mãnh liệt của muôn loài trước cái cằn cỗi của đất đai, cái khắc nghiệt của thời tiết. Đồng thời từ này còn gợi lên thiên nhiên có phần hoang dã, vô trật tự. Không gian và thiên nhiên cây cỏ hòa quyện vào nhau càng làm sâu đậm thêm ấn tượng về mảnh đất hoang vu. Bức tranh được điểm thêm hơi thở, sự sống của con người “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà” Những tưởng rằng với sự xuất hiện của sự sống con người quang cảnh sẽ bớt vắng lặng, cô đơn hơn nhưng thực tế lại không phải vậy. Sự xuất hiện của con người trái lại càng khiến cảnh vật thêm phần heo hút, hoang vắng hơn. Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào dáng “lom khom” của những chú tiều, cái “lác đác” của mấy ngôi nhà ven sông kết hợp các từ chỉ số lượng ít ỏi “vài”, “mấy” khiến cho hình bóng con người đã nhỏ lại càng nhỏ hơn, cuộc sống đã hiu quạnh lại càng hiu quạnh hơn. Bức tranh về một thế giới cô liêu hiện lên rõ hơn bao giờ hết. Nhìn lại cả hai câu thơ ta thấy chúng có đầy đủ các yếu tố của một bức tranh sơn thủy, hữu tình núi, sông, tiều phu, chợ. Thế nhưng những yếu tố ấy khi hợp lại với nhau và khúc xạ qua cảm nhận của nhà thơ lại gợi lên một miền sơn cước hiu quạnh, heo hút. Bốn câu thơ cuối nói lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc/Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. Những âm thanh của cuốc kêu cũng chính là nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Quan. Tài dùng chữ của bà đã đạt đến độ điêu luyện chữ quốc là nước đồng âm với chữ cuốc tức con chim, chữ gia là nhà gần âm với từ chữ đa là chim đa đa. Chữ vừa ghi âm thanh nhưng đồng thời còn bộc lộ tâm trạng, ý tứ của tác giả, qua đó làm nổi bật tâm trạng, nỗi niềm của nữ sĩ. Vì phải xa quê hương, vào miền đất mới nhận chức nên bà nhớ nhà, nhớ gia đình. Còn nhớ nước tức là bà đang nhớ về quá khứ huy hoàng của triều đại cũ. Hai chữ nhớ nước, thương nhà được tác giả đảo lên đầu câu càng nhấn mạnh và làm nổi bật nỗi niềm của bà. Hai câu thơ cuối bộc lộ trực tiếp nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhà thơ “Dừng chân đứng lại trời, non, nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta”. Không gian mênh mông khiến con người lại càng trở nên bé nhỏ, cô đơn hơn. Sự vật tưởng là hòa quyện, gắn kết với nhau mà thực chất lại đang chia lìa đôi ngả, trời, non, nước được tách biệt với nhau bằng những dấu phẩy, đó là cái nhìn mang tính tâm trạng của chính tác giả. Câu thơ cuối như là một lời khẳng định trực tiếp nỗi cô đơn đó “một mảnh tình” “ta với ta”. Đại từ “ta” không còn mang ý nghĩa chỉ chung, cộng đồng mà là cá nhân, chỉ một mình tác giả. Trong hai câu kết, tất cả là một sự gián cách, là một thế giới riêng, cô đơn đến tuyệt đối. Không chỉ đặc sắc về nội dung, tác phẩm còn là điển hình mẫu mực về nghệ thuật cổ điển Đường thi. Bà sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú, chuẩn mực về niêm, luật, đối, ngôn ngữ trau chuốt, mượt mà mặc dù đã được Việt hóa. Sử dụng thành công đảo ngữ, chơi chữ. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình xuất sắc, tả cảnh vật mà bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của tác giả. Qua bài thơ “Qua Đèo Ngang” ta không chỉ ấn tượng bởi nghệ thuật tài tình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển đường thi và chất dân dã của dân tộc, mà còn bị cuốn hút bởi nội dung. Bức tranh phong cảnh đèo Ngang hiu quanh, mênh mông đã thể hiện tâm trạng buồn bã, nỗi niềm nhớ nước, thương nhà của tác giả. Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang – Mẫu 5 Ai đã từng một lần đi trên con đường xuyên Việt, hẳn đều biết đến đèo Ngang. Đây là một đèo khá dài và khá cao, nằm vắt ngang sườn núi cheo leo, hiểm trở của khúc cuối dãy Hoành Sơn, trước khi đâm ra biển. Hình ảnh đèo Ngang đã được đưa vào bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, nhằm gửi gắm nhiều ý nghĩa sâu sắc. Đèo Ngang là ranh giới tự nhiên giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình. Thuở xưa, bao người vào kinh đô Huế để thi cử hay làm việc cho triều đình phong kiến đã đi qua đèo này rồi lâng lâng xúc cảm trước vẻ đẹp của nó mà làm thơ ca ngợi. Bà Huyện Thanh Quan nhân dịp từ Thăng Long vào Huế nhậm chức Cung trung giáo tập dạy dỗ các cung nữ trong cung đã sáng tác bài Qua đèo Ngang. Đằng sau bức tranh phong cảnh thiên nhiên là tâm trạng của nữ sĩ cô đơn, nhớ nhà và hoài niệm về một thời đại huy hoàng đã qua. Có thể coi đây là bài thơ hay nhất trong những bài thơ sáng tác về thắng cảnh này. Câu phá đề đơn giản chỉ là lời giới thiệu về thời điểm tác giả đặt chân đến đèo Ngang Bước tới đèo Ngang bóng xế tà. Đó là lúc mặt trời đang lặn, phía tây chỉ còn chút nắng hắt những tia sáng yếu ớt lên nền trời đang sẫm dần. Thời điểm này rất dễ gợi buồn trong lòng người, nhất là đối với kẻ lữ thứ tha hương. Tuy vậy, trời vẫn còn đủ sáng để nhà thơ nhận ra thiên nhiên nơi đây đẹp như một bức tranh thủy mặc “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”. Có cái gì đó như linh hồn của tạo vật thấp thoáng sau từng chữ. Điệp từ chen, các vế đối cây chen đá, lá chen hoa miêu tả sức sống mãnh liệt của một vùng rừng núi hoang vu. Cảnh đẹp thì có đẹp nhưng nhuốm màu buồn bã, quạnh hiu, thiếu hơi ấm con người. Những bông hoa rừng đây đó không đủ làm sáng, làm vui bức tranh núi non lúc ngày tàn, đêm xuống. Trên bối cảnh thiên nhiên bao la ấy thấp thoáng bóng dáng con người và hơi hướng cuộc sống nhưng cũng chỉ ít ỏi, mờ nhạt, xa vời “Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà.” Con mắt tinh tế của nhà thơ phát hiện ra nét đặc trưng của người và cảnh trước tiên nên bà đã dùng nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh đặc trưng ấy. Dáng vẻ lom khom của mấy chú tiều hái củi sườn non làm cho con người vốn đã nhỏ bé lại càng thêm nhỏ bé trước thiên nhiên cao rộng. Cái chợ là nơi biểu hiện sức sống của một cộng đồng làng xã, lẽ ra tấp nập đông vui, nhưng ở đây nó chỉ là mấy túp lều xơ xác bên sông… Bao trùm lên cảnh vật là một nỗi buồn tê tái và nỗi buồn ấy thấm sâu vào lòng người “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.” Giữa không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối ấy bỗng vẳng lên tiếng chim quốc khắc khoải, tiếng chim đa đa não nuột. Đó là những âm thanh có thật mà cũng có thể là tiếng vọng từ tâm trạng chất chứa nỗi buồn thời cuộc của nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ từ đồng âm khác nghĩa để nói lên lòng mình trước cảnh, đó là tài hoa của nữ sĩ. Tiếng chim kêu không làm cho cảnh vui lên thêm chút nào mà lại làm tăng phần quạnh quẽ, cô liêu. Phải chăng tiếng chim chính là tiếng lòng của kẻ đang mang nặng tâm trạng u buồn, hoài vọng, nhớ nước thương nhà?! Hồn cảnh, hồn người như có nét tương đồng, cho dù về hình thức hoàn toàn tương phản. Cái bao la, vô tận của non nước tô đậm cái cô đơn, chơ vơ của con người và ngược lại. Vì vậy nên nỗi buồn càng lắng đọng “Dừng chân đứng lại trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta.” Quả là một nỗi buồn lớn lao, thấm thía, khó san sẻ, giãi bày. Nó như kết thành hình, thành khối, thành mảnh tình riêng khiến nhà thơ phải thốt lên chua xót ta với ta. Chỉ có ta hiểu lòng ta mà thôi! Vì thế nên sự cô đơn càng tăng lên gấp bội. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” tuy ra đời cách đây đã hơn một thế kỉ nhưng giá trị của nó vẫn nguyên vẹn trước thử thách của thời gian. Bao người yêu thơ thuộc lòng bài thơ này và ca ngợi tài năng của tác giả. Thể thơ Đường luật kiểu cách, sang trọng vào tay nữ sĩ đã trở thành gần gũi, dễ hiểu với người đọc bởi ngôn ngữ giản dị, trong sáng và những hình ảnh dân dã quen thuộc. Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang – Mẫu 6 Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan được sáng tác khi bà đi ngang con đèo này để vào kinh thành Huế nhận chức làm quan. Bài thơ nói lên nỗi nhớ quê hương gia đình của người con gái đi xa, nỗi thương thân của phụ nữ nơi đất khách quê người. Lối thơ nhẹ nhàng điềm tĩnh của tác giả được thể hiện rõ qua bài thơ này. “Trèo đèo hai mái chân vân Lòng về Hà Tĩnh, dạ ân Quảng Bình” Xem Thêm Gợi ý đáp án Mô đun 4 môn Lịch sử – Địa lí Tiểu họcNằm giữa hai đầu nỗi nhớ, gánh trọn ân tình của nữ sĩ về bức tranh thiên nhiên hoang sơ đậm chất tình. Bà Huyện Thanh Quan dùng lối viết tự nhiên mà sâu lắng, hoài cảm đi vào lòng người. Trên con đường vào Phú Xuân, nữ sĩ bắt gặp phong cảnh đèo Ngang, từ đó khơi gợi nỗi buồn của người con gái đường xa chất chứa bao nỗi nhớ thương “Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà Cỏ cây chen lá, đá chen hoa” Bức tranh vẽ ra vào buổi chiều tà, vào thời gian vắng vẻ và hoang vu trong ngày. Nếu được thay bằng “nắng tà” thì khung cảnh sẽ sinh động hơn. Một buổi chiều có nắng vàng, hoa lá và đá, vậy tại sao nữ sĩ lại không chọn nắng? Thời điểm chiều tà làm cho lòng người nôn nấu một nỗi hoài cổ, chất xúc tác làm tâm trạng con người cất thành tiếng. Bức tranh thiên nhiên hoang sơ đượm màu buồn, liệu tâm hồn nữ sĩ có đủ mạnh mẽ vượt qua? Điệp từ “chen” nhấn mạnh sự đơn lẻ, cô liêu. Sự sống sắp lụi tàn, hoa lá cỏ cây đang cuống quýt, nồng say bám chặt lấy sự sinh tồn trên mảnh đất cằn cỗi. “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà” Bức tranh lúc này đã có sự xuất hiện của con người nhưng nó có thể làm mờ nhạt bớt phần nào trong sự trống vắng của tâm hồn người thứ lữ? ” Tiều vài chú” chỉ có một vài chú tiều đi gom củi phía dưới chân núi. Từ đó, làm tăng cường độ mỏng manh của sự sống. Nó hư vô, mờ ảo như thể sẽ biến mất. Tác giả đã dùng nghệ thuật phép đảo để thay đổi trật tự cú pháp ở hai câu này làm toát lên cảnh hắt hiu, hoang sơ của con đèo này. Từ láy ”lom khom” chỉ hoạt động gồng gánh gian nan và “lác đác” nói lên mức độ số lượng được ước tính cụ thể. Những hình ảnh ước lệ ấy đã bộc lộ ra hết cảm xúc, muốn lắm, cần lắm được chạm đến sự sống và khao khát được nhìn thấy con người. Ôi chỉ là ảo ảnh! Nơi này, nữ sĩ biết tìm đâu người bạn đường để trò chuyện chia sẻ bao nỗi niềm. “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” Hai câu luận tiếp theo làm trỗi dậy nỗi niềm tiềm ẩn của người thứ lữ. ”Con quốc quốc” “Cái gia gia” âm hưởng nhẹ nhàng mà thấm đẫm đến tâm can con người. Người khách phương xa cô đơn nghe văng vẳng tiếng chim cuốc mà lòng tê tái, não nề. Ở đây, tác giả dùng thủ pháp dùng động để tả tĩnh thật tinh tế, thứ âm thanh coi cuốc nơi xa kia làm bệ phóng cho tác giả gửi trọn nỗi niềm về đất nước và gia đình trên cuộc hành trình của mình. Thương nước nhà đang chìm trong tình cảnh loạn lạc, xót xa thân phận gái xa nhà độc hành. Nỗi lòng thương xót ấy như được trùng trùng điệp điệp không ngơi nghỉ. “Dừng chân nghỉ lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta.” Hai câu kết đưa xúc cảm của nữ sĩ lên đến đỉnh điểm của cảm xúc cao trào. ”Dừng chân” phần nào làm cho mạch cảm hứng của người đọc ngắt đoạn. Nhờ đó, mới diễn tả hết tâm trạng của nữ sĩ giữa núi rừng heo hút. Cái mênh mông, vô tận của núi rừng níu chân người thứ lữ. Ai đã từng một mình trước biển mà không choáng ngợp ?Ai đã yêu một người mà chưa từng nhớ nhung? Thật vậy, giữa thế giới bao la, vô tận ấy làm đôi chân nhỏ bé không thể bước nổi. Sự đơn độc ấy làm người thứ lữ yếu đuối. Người con gái ấy lại một lần nữa khao khát được hòa mình vào thiên nhiên núi rừng, được che lấp sự yếu đuối, đơn độc nơi mình. Núi rừng bao la, rộng lớn bao nhiêu thì sự cô đơn, trống vắng của nữ sĩ lại càng tăng bấy nhiêu. Từ đó, ta đủ cảm nhận “mảnh tình riêng” đơn độc đến tiếc nuối. Thể thơ thất ngôn bát cú với cấu trúc đề thực luận kết, cách hiệp vần và phép đối trong bài thơ tóm gọn bao cảm xúc trong lòng người đọc. Những tâm tư ấy đẹp biết bao qua lăng kính của tâm hồn người nữ sĩ một lòng một người yêu nước, thương dân. Bài thơ “Qua đèo Ngang” mang đến một phong cách mới mẻ về bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, mang đậm chất trữ tình của nữ sĩ. Những vần thơ ấy sẽ còn mãi trong tâm trí người đọc, có một người yêu thiên nhiên, yêu đất nước đến vậy. Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang – Mẫu 7 Trong nền văn học hiện đại nếu như chúng ta bắt gặp sự sắc sảo, mạnh mẽ, bứt phá trong thơ của Hồ Xuân Hương thì chắc hẳn rằng sẽ thấy được sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ “Qua đèo Ngang” tiêu biểu cho phong cách ấy. Bài thơ được sáng tác khi tác giả vào Phú Xuân Huế nhận chức và đi qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, nhớ quê hương và thương cho thân gái nơi đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú với cấu trúc đề, thực, luận kết. Chỉ tám câu thơ nhưng nó đã diễn tả được hết cái thần thái, cái hồn của cảnh vật cũng như của con người khi đứng trước cảnh trời núi hiu quạnh và lòng người man mác như thế này. Hai câu đề gợi lên trước mắt người đọc khung cảnh hoang sơ nơi đèo Ngang “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen lá, lá chen hoa” Không gian và thời gian ở đèo Ngang được tác giả thể hiện qua từ “bóng xế tà”. Có thể nói đây là thời gian là cảm xúc trong lòng người dường như nặng nề, gợi buồn, gợi sầu hơn. Trong ca dao, dân ca, chúng ta vẫn bắt gặp thời điểm chiều tả để đặc tả nỗi buồn không biết bày tỏ cùng ai. Mặt trời xuống núi, hoàng hôn sắp bao phủ lấy nơi này. Cảm giác cô đơn, lạc lõng. Cảnh vật thiên nhiên nơi đây dường như quạnh quẽ đến nao lòng. Chỉ có cỏ cây và hoa. Điệp từ “chen” dường như đã làm tăng thêm tính chất hiu quạnh của địa danh này. Hoa lá đang quấn quýt lấy nhau, bám chặt nhau để sống, sinh sôi. “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà” Đến hai câu thực thì mới thấp thoáng hình ảnh con người, nhưng cũng chỉ là “tiều vài chú”. Hóa ra chỉ là một vài chú tiều bé nhỏ đi nhặt củi ở dưới chân núi. Mặc dù có sự sống nhưng mong manh và hư vô quá. Với phép đảo trật tự cú pháp ở hai câu thơ này, Bà Huyện Thanh Quan đã một lần nữa nhấn mạnh sự hoang sơ, hiu quạnh của đèo Ngang. Việc sử dụng hai từ láy “lom khom” và “lác đác” vừa chỉ hoạt động gánh củi vất vả vừa chỉ ước tính số lượng cụ thể. Những hình ảnh ước lệ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan đã lột tả hết thần thái cũng như cảm xúc của tác giả lúc đó. Những sự sống hiếm hoi, lẻ loi và mong manh đang chờn vờn ở ngay trước mắt nhưng xa lắm. Muốn tìm bạn để tâm sự cũng trở nên khó khăn. Sang đến hai câu thơ luận thì cảm xúc và tâm sự của tác giả bỗng nhiên trỗi dậy “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” Điệp âm “con quốc quốc” và “cái gia gia” đã tạo nên âm hưởng dìu dặt, du dương nhưng vô cùng não nề thấm đến tâm can. Người lữ khách đường xa nghe văng vẳng tiếng cuốc và da da kêu mà lòng quạnh hiu, buồn tái tê. Thủ pháp lấy động tả tĩnh của tác giả thật đắc điệu, trên cái nền tĩnh lặng, quạnh quẽ bỗng nhiên có tiếng chim kêu thực sự càng thêm não nề và thê lương. “Dừng chân nghỉ lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta” Chỉ bốn chữ “dừng chân nghỉ lại” cũng đã khiến người đọc cảm thấy da diết, bồn chồn đến não nề. Cảnh trời nước mênh mông, vô tận nhưng con người thì bé nhỏ khiến cho tác giả thấy mình lạc lõng và không một nơi bấu víu. Đất trời rộng lớn, tác giả chỉ cảm thấy còn “một mảnh tình riêng”. Và cái mảnh tình con con ấy cũng chỉ có “ta với ta”. Nỗi buồn dường như trở nên cực độ, buồn thấu tận tâm can, buồn nghiêng ngả trời đất. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” với giọng điệu da diết, trầm bổng, du dương và những thủ pháp nghệ thuật độc đáo đã mang đến cho người đọc cảm xúc khó quên. Dư âm của bài thơ dường như còn vang vọng đâu đây. Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang – Mẫu 8 Qua Đèo Ngang là một tác phẩm tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ gửi gắm tấm lòng yêu nước sâu nặng của nhà thơ. Mở đầu, tác giả gợi mở về thời gian, không gian cũng như điểm nhìn của bài thơ. Hai từ “bước tới” gợi đến một sự ngạc nhiên khi nhìn thấy hay tiếp cận con đèo. Đó cũng là thời khắc “bóng xế tà” khi ngày đã sắp tàn và màn đêm đang dần buông xuống. Đứng trước đèo Ngang với rừng núi hoang vu xa lạ, những xúc cảm của lòng người đã trào dâng. Tiếng “tà” với âm bằng xuất hiện trong văn cảnh tạo nên giai điệu buồn thương man mác, trở thành “vần” của ý thơ “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” Khung cảnh thiên nhiên hiện lên với sức sống mãnh liệt. Điệp từ “chen”, kết hợp với việc sử dụng vần lưng “đá – lá”, lại vừa sử dụng vần chân “tà – hoa” đã làm cho nhạc điệu thơ du dương và réo rắt. Cảnh đèo hiện lên thật hoang vu và có chút cằn cỗi. Không chỉ thiên nhiên, con người cũng đã xuất hiện trong bức tranh đó “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà” Cách sử dụng từ láy “lom khom” và “lác đác” kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào sự nhỏ bé, thưa thớt của con người. Ngoại cảnh đã hòa hợp với râm cảnh người nữ sĩ trong buổi chiều tà nơi đèo hút hút gió. Nữ sĩ đã sử dụng bút pháp miêu tả tượng trưng và ước lệ của thi pháp cổ ngư, tiều, canh, mục kết hợp với cảm hứng đầy thi cảm và sáng tạo. “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” Nghệ thuật đối và đảo ngữ được sử dụng ở phần thực đã tiếp tục được phát huy tác dụng một cách triệt để ở phần luận. Đó là tiếng chim cuốc, chim đa trong bóng chiều tà. Đó là “nhớ nước đau lòng” và “thương nhà mỏi miệng” đã được đặt trong thế đăng đối và hòa hợp. Ý thơ đã thể hiện người nữ sĩ lấy ngoại cảnh để phô diễn tâm tình. Đây cũng là một nét đặc sắc và nổi bật trong phong cách sáng tác của bà huyện Thanh Quan. Thơ tả cảnh ngụ tình nên nhạc, nên họa đã diễn tả cảnh đèo Ngang lúc hoàng hôn với nỗi niềm thi sĩ làm ta cảm thương, vương vấn. “Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta với ta” Hai câu thơ kết cuối bài như dồn lại biết bao nhớ thương sâu lắng và dạt dào của người nữ sĩ trong khung cảnh chiều tà. Đứng một mình nơi đèo cao lộng gió trong buổi hoàng hôn, nữ sĩ thấy mình như sống trong tâm trạng lẻ bóng, cô đơn, giữa một khung cảnh thiên nhiên hoang vắng bao la của “trời, non, nước”. Hai chữ “đứng lại” diễn tả một tư thế, một tâm trạng xúc động và bồi hồi. “Ta với ta” là ba chữ đắt giá kết hợp với điệp ngữ láy âm, đặt trong mối tương phản với “trời, non, nước” đã cho thấy cái mênh mang bao la với sự lẻ loi, đơn côi và nhỏ bé của lòng người. Nó gợi lên một sự trống vắng không thể nào kể xiết. “Qua Đèo Ngang” là bài thơ Nôm kiệt tác được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ đã cho thấy phong cách sáng tác của Bà Huyện Thanh Quan. Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang – Mẫu 9 Một trong những nữ thi sĩ tiêu biểu của nền văn học Việt Nam trung đại là Bà Huyện Thanh Quan. Tác phẩm nổi bật của bà phải kể đến bài thơ “Qua Đèo Ngang”. Mở đầu bài thơ, tác giả đã khắc họa thiên nhiên nơi đèo Ngang tràn đầy sức sống “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” Thời điểm mà Bà Huyện Thanh Quan bước đến đèo Ngang là khi “bóng xế tà” – kết thúc của một ngày. Đó là khi con người trở về nhà để nghỉ ngơi sau một ngày mệt mỏi. Trước mắt tác giả là thiên nhiên nơi đèo Ngang trần đầy sức sống. Cách sử dụng điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” cho thấy sự sống đang trỗi dậy. Khung cảnh đèo Ngang được khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động. Và trong nền bức tranh thiên nhiên đó, con người xuất hiện. Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ trong hai câu thơ tiếp theo “lom khom – tiều vài chú”, “lác đác – chợ mấy nhà” cho thấy hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi, vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông. Cách sử dụng nhằm nhấn mạnh sự nhỏ bé của con người giữa thiên nhiên rộng lớn. Từ đó, sự cô đơn của tác giả càng được thể hiện rõ hơn. “Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.” Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim chim đỗ quyên, chim đa đa. Tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” nghe da diết đã còn bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương. Đến câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước có bầu trời, có núi non, dòng sông. Sự cô đơn của nhà thơ “một mảnh tình riêng” – tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ “Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta” Cảnh vật thiên nhiên thì rộng lớn, còn tác giả chỉ có “một mảnh tình riêng”. Và cái mảnh tình con con ấy cũng chỉ có “ta với ta”. Nếu trong “Bạn đến chơi nhà”, Nguyễn Khuyến dùng cụm từ “ta với ta” – “Bác đến chơi đây ta với ta” để diễn tả tình bạn tri kỉ, thắm thiết. Thì trong bài Qua đèo Ngang, cụm từ “ta với ta” càng bộc lộ thêm nỗi cô đơn của tác giả. Qua Đèo Ngang gửi gắm nỗi lòng yêu quê hương, đất nước tha thiết của Bà Huyện Thanh Quan.
1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý 2. Dàn bài chi tiết a. Mở bài - Giới thiệu về Bà Huyện Thanh Quan, nội dung chính bài thơ Qua Đèo Ngang. b. Thân bài * Hai câu đề Cảnh vật thiên nhiên nơi Đèo Ngang - Thời gian “Bóng xế tà”, đây là thời điểm kết thúc của một ngày, khi con người thường trở về nhà sau một ngày lao động vất vả. Vậy mà nhà thơ lại một mình tại nơi đèo Ngang càng khiến cho nỗi cô đơn trở nên tột cùng. - Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng. Điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” gợi ra một thiên nhiên tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống. => Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động. * Hai câu thực Cuộc sống con người nơi Đèo Ngang - Giữa thiên nhiên hoang sơ và rộng lớn con người xuất hiện Nghệ thuật đảo ngữ Lom khom - tiều vài chú hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi. Lác đác - chợ mấy nhà hình ảnh vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông. => Nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Con người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. Cảnh vật và con người dường như có sự xa cách khiến cho không khí càng thêm hoang vu, cô quạnh. * Hai câu luận Tâm trạng nhớ nhà của nhà thơ khi đứng trước Đèo Ngang - Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim chim đỗ quyên, chim đa đa. - Mà ở đây, nhà thơ đã sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” để qua đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương. => Hai câu thơ diễn tả nhớ nhung sâu đậm của Bà Huyện Thanh Quan. * Hai câu kết Nỗi cô đơn tột cùng của nhà thơ - Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước có bầu trời, có núi non, dòng sông. - Sự cô đơn của nhà thơ “một mảnh tình riêng” - tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ, “ta với ta” - đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi. => Hai câu kết khẳng định lại nỗi cô đơn, trống trải của tác giả trước thiên nhiên rộng lớn. c. Mở bài - Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Qua Đèo Ngang. 3. Bài văn mẫu Đề bài Em hãy viết bài văn ngắn phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan. Gợi ý làm bài Bài văn mẫu số 1 Bà Huyện Thanh Quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn bà để lại cho hậu thế không còn nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là phải kể đến bài Qua đèo Ngang. Đây là bài thơ tả cảnh ngụ tình, bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của bà khi trên đường vào kinh đô Huế nhận chức. Mở đầu bài thơ là bức tranh phong cảnh thấm đẫm nỗi buồn hiu quạnh “Bước đến đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” Hai câu thơ mở ra không gian, thời gian nghệ thuật quen thuộc trong thơ trung đại, đây đồng thời cũng là nét đặc trưng phong cách của Bà Huyện Thanh Quan chiều tà và bóng hoàng hôn. Thời gian là buổi chiều nhưng không phải là lúc đầu hôm mà là chiều tà, thời điểm chuyển giao giữa chiều và tối, ánh nắng chỉ còn nhạt nhòa và sắp lặn. Không gian mênh mông, rộng lớn, với cả trời, non, nước nhưng tất cả đều im ắng, vắng lặng đến rợn ngợp. Trong không gian đó, hình ảnh cây cối, hoa cỏ hiện lên có phần hoang dại, chúng chen chúc nhau mọc lên. Từ “chen” gợi sức sống mãnh liệt của muôn loài trước cái cằn cỗi của đất đai, cái khắc nghiệt của thời tiết. Đồng thời từ này còn gợi lên thiên nhiên có phần hoang dã, vô trật tự. Không gian và thiên nhiên cây cỏ hòa quyện vào nhau càng làm sâu đậm thêm ấn tượng về mảnh đất hoang vu. Bức tranh được điểm thêm hơi thở, sự sống của con người “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà” Những tưởng rằng với sự xuất hiện của sự sống con người quang cảnh sẽ bớt vắng lặng, cô đơn hơn nhưng thực tế lại không phải vậy. Sự xuất hiện của con người trái lại càng khiến cảnh vật thêm phần heo hút, hoang vắng hơn. Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào dáng “lom khom” của những chú tiều, cái “lác đác” của mấy ngôi nhà ven sông kết hợp các từ chỉ số lượng ít ỏi “vài”, “mấy” khiến cho hình bóng con người đã nhỏ lại càng nhỏ hơn, cuộc sống đã hiu quạnh lại càng hiu quạnh hơn. Bức tranh về một thế giới cô liêu hiện lên rõ hơn bao giờ hết. Nhìn lại cả hai câu thơ ta thấy chúng có đầy đủ các yếu tố của một bức tranh sơn thủy, hữu tình núi, sông, tiều phu, chợ. Thế nhưng những yếu tố ấy khi hợp lại với nhau và khúc xạ qua cảm nhận của nhà thơ lại gợi lên một miền sơn cước hiu quạnh, heo hút. Tiếp đến, Bà Huyện Thanh Quan đã bộc lộ tâm trạng của mình khi đứng trước đèo Ngang “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” Giữa chốn rừng sâu vắng lặng, vang lên tiếng chim cuốc đau lòng não ruột. Đó cũng có thể là thanh âm thật là hay là tiếng lòng trong tâm trạng nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ để nói lên tiếng lòng mình trước cảnh. Tiếng chim kêu làm tăng phần cô quạnh, phải chăng đó là tâm trạng hoài vọng nhớ thương nước nhà? Cái bao la, vô tận của non nước làm chơi vơi bóng hình một mình giữa thiên nhiên, hồn cảnh - hồn người như hòa lẫn vào nhau, làm nỗi buồn da diết bị lắng đọng cùng. “Dừng chân đứng lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta” Tiếng lòng non nước thấm thía, không san sẻ buộc nhà thơ thốt lên giãi bày "ta với ta" nghe chua xót. Chỉ ta mới hiểu được lòng ta, sự cô đơn như tăng lên gấp bội. Dù sầu muội như bà Huyện Thanh Quan vẫn cảm nhận được vẻ đẹp non nước dù nơi dừng chân có vẻ hoang sơ, nhưng đã tô lên vẻ đẹp hùng vĩ, bao la của núi rừng. Bài thơ "Qua Đèo Ngang" vừa gợi lên một bức tranh về cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ, vừa gợi ra khung cảnh sống giản dị, đơn sơ mà ấm áp. Từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, đất nước da diết khi xa quê hương, lẻ loi một bóng hình nơi đất khách quê người. Bài văn mẫu số 2 Trong nền văn học hiện đại nếu như chúng ta bắt gặp sự sắc sảo, mạnh mẽ, bứt phá trong thơ của Hồ Xuân Hương thì chắc hẳn rằng sẽ thấy được sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ “Qua đèo Ngang” tiêu biểu cho phong cách ấy. Bài thơ được sáng tác khi tác giả vào Phú Xuân Huế nhận chức và đi qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, nhớ quê hương và thương cho thân gái nơi đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú với cấu trúc đề, thực, luận kết. Chỉ tám câu thơ nhưng nó đã diễn tả được hết cái thần thái, cái hồn của cảnh vật cũng như của con người khi đứng trước cảnh trời núi hiu quạnh và lòng người man mác như thế này. Hai câu đề gợi lên trước mắt người đọc khung cảnh hoang sơ nơi đèo Ngang “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen lá, lá chen hoa” Không gian và thời gian ở đèo Ngang được tác giả thể hiện qua từ "bóng xế tà". Có thể nói đây là thời gian là cảm xúc trong lòng người dường như nặng nề, gợi buồn, gợi sầu hơn. Trong ca dao, dân ca, chúng ta vẫn bắt gặp thời điểm chiều tả để đặc tả nỗi buồn không biết bày tỏ cùng ai. Mặt trời xuống núi, hoàng hôn sắp bao phủ lấy nơi này. Cảm giác cô đơn, lạc lõng. Cảnh vật thiên nhiên nơi đây dường như quạnh quẽ đến nao lòng. Chỉ có cỏ cây và hoa. Điệp từ "chen" dường như đã làm tăng thêm tính chất hiu quạnh của địa danh này. Hoa lá đang quấn quýt lấy nhau, bám chặt nhau để sống, sinh sôi. “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà” Đến hai câu thực thì mới thấp thoáng hình ảnh con người, nhưng cũng chỉ là "tiều vài chú". Hóa ra chỉ là một vài chú tiều bé nhỏ đi nhặt củi ở dưới chân núi. Mặc dù có sự sống nhưng mong manh và hư vô quá. Với phép đảo trật tự cú pháp ở hai câu thơ này, Bà Huyện Thanh Quan đã một lần nữa nhấn mạnh sự hoang sơ, hiu quạnh của đèo Ngang. Ngoại cảnh đã hòa hợp với râm cảnh người nữ sĩ trong buổi chiều tà nơi đèo hút hút gió. Nữ sĩ đã sử dụng bút pháp miêu tả tượng trưng và ước lệ của thi pháp cổ ngư, tiều, canh, mục kết hợp với cảm hứng đầy thi cảm và sáng tạo. “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” Nghệ thuật đối và đảo ngữ được sử dụng ở phần thực đã tiếp tục được phát huy tác dụng một cách triệt để ở phần luận. Đó là tiếng chim cuốc, chim đa trong bóng chiều tà. Đó là “nhớ nước đau lòng” và “thương nhà mỏi miệng” đã được đặt trong thế đăng đối và hòa hợp. Ý thơ đã thể hiện người nữ sĩ lấy ngoại cảnh để phô diễn tâm tình. Đây cũng là một nét đặc sắc và nổi bật trong phong cách sáng tác của bà huyện Thanh Quan. Thơ tả cảnh ngụ tình nên nhạc, nên họa đã diễn tả cảnh đèo Ngang lúc hoàng hôn với nỗi niềm thi sĩ làm ta cảm thương, vương vấn. “Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta với ta” Hai câu thơ kết cuối bài như dồn lại biết bao nhớ thương sâu lắng và dạt dào của người nữ sĩ trong khung cảnh chiều tà. Đứng một mình nơi đèo cao lộng gió trong buổi hoàng hôn, nữ sĩ thấy mình như sống trong tâm trạng lẻ bóng, cô đơn, giữa một khung cảnh thiên nhiên hoang vắng bao la của “trời, non, nước”. Hai chữ “đứng lại” diễn tả một tư thế, một tâm trạng xúc động và bồi hồi. “Ta với ta” là ba chữ đắt giá kết hợp với điệp ngữ láy âm, đặt trong mối tương phản với “trời, non, nước” đã cho thấy cái mênh mang bao la với sự lẻ loi, đơn côi và nhỏ bé của lòng người. Nó gợi lên một sự trống vắng không thể nào kể xiết. "Qua Đèo Ngang" là bài thơ Nôm kiệt tác được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ đã cho thấy phong cách sáng tác của Bà Huyện Thanh Quan. -Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp-
phân tích bài qua đèo ngang lớp 7